Các Yếu Tố Đánh Giá Nguồn Nước an toàn để sử dụng

Theo tài liệu chỉ dẫn về hiệu quả nước uống do center tin báo khoa học sinh học quốc tế Hoa Kỳ (NCBI) cung cấp, đánh giá nước uống có an toàn hay không có thể dựa vào các yếu tố: vi sinh vật, hóa học, phóng xạ và giác quan.

1. Yếu tố vi động vật
con người có nguy cơ rủi ro về tình trạng sức khỏe khi sử dụng hết nước uống có tiềm ẩn chất bài tiết của mọi người và sinh vật.

Các vi động vật trong nước có khả năng gây bệnh gồm:

  • Vi khuẩn, virus, sinh vật nguyên sinh và giun sán;
    những mầm bệnh có khả năng phát sinh, như Helicobacter pylori, Tsukamurella, Isospora belli và microsporidia, trong ấy lây truyền qua đường nước là hợp lý nhưng chưa được xác nhận;
    Vi khuẩn lam.
  • Trong đó mỗi bệnh truyền nhiễm gây ra bởi vi khuẩn, virus và ký sinh trùng là những liên lụy về tình trạng sức khỏe thông dụng nhất tương quan tới nước uống. Cụ thể những tác nhân này gồm:
  • Vi khuẩn: Burkholderia, Campylobacter, Escherichia coli, E.coli, Shigella,….
    Virus: Adenoviridae, Caliciviridae, Virus viêm gan E, Enteroviruses, Virus Rotavirus,…
    động vật nguyên sinh: Acanthamoeba, Cyclospora, Entamoeba,…
    Giun sán: Dracunculus.
    một số mầm bệnh truyền qua nước sạch bị ôi nhiễm rất có thể dẫn đến mỗi bệnh nghiêm trọng, đe dọa đến tính mạng như thương hàn, bệnh tả, viêm gan truyền nhiễm (do virus viêm gan A hoặc E), kiết lỵ do vi khuẩn Shigella gây ra, và một vài bệnh khác thường ít nghiêm trọng hơn, như tiêu chảy tự giảm thiểu.
  • Mỗi tác động của mầm bệnh ở nhân loại khác hẳn với tất cả các quần thể. Nhóm đối tượng dễ tổn thương – bao gồm trẻ nhỏ, người cao tuổi, phụ nữ mang thai và nhiều người bị suy giảm hệ miễn dịch – sẽ có xác suất mắc bệnh cao hơn và mức độ nặng hơn. Nước nhiễm bẩn cũng có thể là căn nguyên bùng phát dịch bệnh, giá như dịch tả, kiết lỵ…
  • Vi sinh vật trong nước
    một vài mầm bệnh truyền qua nước sạch bị ôi nhiễm hoàn toàn có thể đe dọa đến tính mạng người sử dụng

2. Yếu tố hóa học

Như đã đề cập, phần lớn mỗi vấn đề thể trạng tương đồng tới nước uống là do mỗi vi động vật. Tuy nhiên vẫn có số ít lượng đáng kể các trường hợp gây hại sức khỏe nghiêm trọng là do ôi nhiễm hóa chất trong nước uống.

Phơi nhiễm với chất độc hóa học trong nước uống thường ko gây ảnh hưởng ngay tức thì đến sức khỏe, bởi thế rất là khó để nhận biết nguồn nước có vấn đề để can thiệp kịp lúc. Khi này, vai trò của việc kiểm tra, giám sát là hết sức cấp thiết.

một số chất hóa học gây ôi nhiễm nước uống tiêu biểu bao gồm: styren, nhôm, amoniac, asen, benzen, axit axetic, clo hydrat, clorua, clo, crom, đồng, chì, thủy ngân,…

3. Yếu tố phóng xạ

Nước uống rất có thể chứa những chất phóng xạ gây nguy hiểm cho sức khỏe con người. Những rủi ro này thường nhỏ hơn so với rủi ro do vi sinh vật và hóa chất trong nước uống gây ra. Ngoại trừ các tình huống khắc khe, liều bức xạ do nuốt phải mỗi hạt nhân phóng xạ trong nước nước uống thấp hơn nhiều đối với lượng nhận được từ các nguồn khác.

Nguồn nước sạch lúc bị ôi nhiễm rất có thể đựng những hạt nhân phóng xạ có xuất xứ trùng hợp hoặc nhân tạo:

Hạt nhân phóng xạ tự nhiên: bao gồm potassium-40, radium-226, radium-228, uranium-234, uranium-238,… Tìm thấy trong nước do hấp thụ ngẫu nhiên (ví dụ hấp thụ từ đất), hoặc do những quy trình sản xuất tương quan đến các chất phóng xạ tìm ra tự nhiên như khai thác, chế biến quặng,…
Hạt nhân phóng xạ nhân tạo: Do thải ra từ những cơ sở sản xuất nhiên liệu hạt nhân, hoặc do lượng phóng xạ còn tồn dư từ quá khứ phát tán vào môi trường.
bất kì sự phơi nhiễm bức xạ nào đều tiềm ẩn các rủi ro. So với tình huống uống nước nhiễm xạ trong thời gian dài đã có chứng cứ về việc gia tăng nguy cơ ung thư.

4. Yếu tố giác quan

Lúc đánh giá hiệu quả nước sạch, người tiêu dùng đa phần dựa vào cảm quan. Yếu tố cảm quan bao gồm màu, mùi và vị. Nước sạch ko được có mùi và vị gây khắc khe với đông đúc người mua.

  • Màu, mùi và vị của nước có thể biến đổi do ô nhiễm hóa học vô cơ và hữu cơ, do giai đoạn phân hủy sinh học, ăn mòn hoặc hậu quả của việc giải quyết nước (mùi clo). Ngoài ra, nước sạch có vị và mùi lạ cũng có thể là dấu hiệu đã xảy ra sự cố trong quá trình xử lý hoặc phân phối nước.
  • Màu, mùi và vị của nước bị biến đổi do các tác nhân sau:
    mỗi chất gây ôi nhiễm có xuất phát sinh học, bao gồm:
    Actinomycetes và nấm: Gây mùi và vị nghiêm khắc lúc uống;
    Vi khuẩn lam và tảo: khiến nước bị đục;
    sinh vật ko xương sống xem cảm thấy được (ví dụ ốc, giun, rận nước,…) và mỗi loài vi mô;
    Vi khuẩn sắt: Một loại động vật lúc kết hợp với sắt (mangan) và oxy trong nước sẽ chế tạo ra mỗi cặn rỉ sét trên thành bể, đường ống và lắng cặn trong nước.
    các chất gây ôi nhiễm có khởi thủy hóa học gồm:
    Nhôm: Gây đổi màu nước hoặc lắng cặn;
    Amoniac: Gây mùi hăng khai;
    Cloramines: ảnh hưởng đến mùi và vị của nước;
    Clorua: Nồng độ cao gây ra vị mặn cho nước uống;
    Clo: Gây mùi hắc;
    Clorobenzenes: Gây đổi mùi và vị;
    Clorophenol: Đổi mùi và vị cực kỳ nhẹ;
    Đồng: Nồng độ cao gây đổi màu và làm nước có vị đắng;
    Ethylbenzen: Tạo mùi thơm;
  • Độ cứng của nước: Nước cứng thường gây cặn trong ấm đun nước, khiến xà phòng ít tạo bọt,…
    Hydrogen sunfua: Có mùi trứng thối;
    Mangan: Gây mùi và vị nghiêm cách trong nước uống, làm hoen ố quần áo; tạo Một màng cặn màu đen trong đường ống;
    Styren: Gây vị ngọt nhẹ.
    Kẽm: Ở nồng độ vượt quá 3 FPV5 mg/l làm nước có màu trắng đục và tạo lớp váng nhờn trên mặt nước khi đun sôi.
  • Về màu sắc:
    Nước uống an toàn phải không màu. Màu của nước thường do sự có mặt của mỗi chất hữu cơ có màu (chủ yếu là axit humic và axit fulvic) trong mùn đất, do sự hiện diện của sắt và mỗi kim loại khác. Nó cũng hoàn toàn có thể là kết quả của ôi nhiễm nguồn nước do nước thải công nghiệp, đây là hiện tượng rất nghiêm trọng.

Hầu hết chúng tôi hoàn toàn có thể tìm ra được bằng mắt thường màu sắc của nước ở mức trên 15 TCU (đơn vị màu sắc), còn nước có mức TCU dưới 15 thường vẫn được người tiêu dùng chấp nhận.

  • Về độ đục:
    Độ đục của nước được đo bằng công ty NTU (Nephelometric Turbidity Units), phát ra bởi mỗi hạt lơ lửng (như đất sét, cát), kết tủa hóa học, mảnh vụn hữu cơ và động vật. Dưới 4 NTU, độ đục chỉ tìm ra được bằng khí cụ chuyên biệt; từ 4 NTU trở lên rất có thể cảm thấy nước đục như màu trắng sữa, màu bùn, nâu đỏ hoặc đen.

Nước sạch sẽ bị đục nếu mà chất lượng cao nước đầu nguồn kém, xử lý nước chưa tốt hoặc công đoạn phân phối không hề bảo đảm, sự xâm nhập của nước bẩn ở mỗi chỗ đường ống vỡ,… Độ đục cao của nước gây đổi màu quần áo,…

Nên xử lý thế nào khi nước có màu, mùi và vị lạ?

Mỗi vấn đề về giác quan của nước sẽ được giải quyết bằng mỗi phương thức làm sạch bình thường như lắng đọng hoặc khử trùng bằng clo. Trong tình huống cần tìm lời giải chuyên sâu có thể dùng phương thức sục khí, than hoạt tính dạng hạt hoặc bột, ozon hóa để loại bỏ các hóa chất hữu cơ và vô cơ khá chất lượng cao.

Cụ thể, mangan trong nước rất có thể loại bỏ bằng cách khử clo rồi đưa qua bộ lọc; loại bỏ hydro sunfua bằng cách sục khí, dùng than hoạt tính và oxy hóa; loại bỏ amoniac bằng nitrat hóa sinh học; giảm độ cứng của nước bằng cách mềm hóa kết tủa và cation. Những chất vô cơ gây đổi mùi và vị khác như clorua và sunfat thường không thể nào khắc phục được.

Related Posts

Leave a Reply